MỞ ĐẦU

Trong lịch sử của sự phát triển văn minh, văn hóa nhân loại, vấn đề con

người và tương lai của con người luôn giử vị trí trung tâm và trở thành đối

tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, đặc biệt là

khoa học xã hội nhân văn, nhưng chỉ có triết học mới nhận thức con người

một cách toàn diện trong tính chỉnh thể của nó.

Trong điều kiện hiện nay Yên Bái nói riêng, Việt Nam nói chung đã là

thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO xu hướng toàn cầu hoá đang

dần chiếm ưu thế, cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt, vấn đề xây dựng và

phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao để có thể đáp ứng quá

trình hội nhập quốc tế và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đang là yêu

cầu bức thiết đi với nước ta. Đảng và Nhà nước ta đã và đang phát huy và sử

dụng nhân tố con người với tư cách là động lực chính của sự phát triển kinh tế

xã hội.

Thành công của các nước công nghiệp mới (NIC) ở châu Á cho thấy dù

tài nguyên không nhiều, dân số lại đông để giảm sức ép giành lợi thế cạnh

tranh. Khai thác tốt nguồn lực nộI sinh thúc đẩy cho giáo dục và khoa học

công nghệ nên đã tạo ra cho mình động lực phát triển toàn diện đất nước họ

đặc biệt quan tâm đầu tư cho giáo dục và khoa học công nghệ nên đã tạo cho

mình động lực phát triển. Điều này chứng tỏ nhân tố con người luôn có một

vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của mọI quốc gia. Đối vớI một số

nước mà tốc độ phát triển còn chậm như nước ta muốn xây dựng thành công

chủ nghĩa xã hộI thì phảI phát huy tiềm năng trí tuệ con người Việt Nam xây

dựng nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng nâng cao về chất lượng. Muốn thực

hiện được điều đó cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo trong quá

trình sử dụng và phân công lao động xã hội

Do kiến thức có hạn nên bài viết này còn nhiều hạn chế kính mong thầy

cô nhận xét, góp ý để bài viết này hoàn thiện hơn.


1



2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò

của nhân tố con người và việc phát huy nhân tố con người trong QLXH ở Yên

Bái hiện nay.

3. Nhiệm vụ của đề tài


- Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác -


Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về con người. Phân tích thực trạng tình hình phát huy nhân tố con người trong QLXH ở Yên

Bái hiện nay. - Đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nhân

tố con người


trong QLXH ở Yên Bái hiện nay. 4. Đối tượng, phạm vi


nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là nhân tố con người và nguồn lực con

người trong phạm vi địa bàn ở Yên Bái hiện nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó chú ý các phương

pháp: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn để thực

hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra.

6. Kết cấu của đề tài

Gồm 3 phần : phần mở đầu

kết luận

danh mục tài liệu tham khảo


2



NỘI DUNG


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI

1.1 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người

1.1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người.

Quan điểm duy tâm quy đặc trưng bản chất con người vào lĩnh vực ý thức,

tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hoặc xem bản chất con người là cái gì đó được

quy định sẳn từ những lực lượng siêu tự nhiên.

Một số trào lưu triết học khác lại giải thích bản chất con người từ gốc độ

những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Bản chất đó là bản chất tự

nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì của thể xác và dục vọng để phát

triển giống nòi; hoặc tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân

riêng lẻ, nghĩa là con người bị tách ra khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của

nó. Tính chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất con người biểu

hiện ở chỗ, coi bản chất là cái vốn có trừu tượng và quy nó về bản tính tự

nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến, cụ thể như sau:

1.1.1.1 Tư tưởng về con người trong triết học Phương Đông và

Phương Tây

Trước hết là quan điểm triết học Ấn Độ cổ đại, từ rất sớm triết học Ấn Độ

cổ đại với nhiều hệ thống, trường phái triết học khác nhau như trường phái

triết học chính thống và trường phái triết học không chính thống đã thể hiện

những tư tưởng khác nhau về con người.

Việc lý giải bản chất đời sống tâm linh và con đường giải thoát con người

khỏi “bể khổ” đã trở thành nội dung chính yếu trong toàn bộ hệ thống quan

niệm về con người của tất cả các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại. Quan

niệm triết học về con người trong triết học Ấn Độ cổ đại không dừng ở

những khái niệm, tín điều khô khan, kinh sách mà phong phú sinh động, được

thể hiện ở sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của nhân dân. Đối với các nhà triết

học Ấn Độ cổ đại mọi nguyên lý triết học điều tập trung vào việc tìm con

đường “giải thoát” con người khỏi sự ràng buộc của đời sống vật chất. Mục

3



đích “giải thoát” khiến tất cả các triết học đều coi trọng và đều đặt lên hàng

đầu việc giải quyết vấn đề con người. Vì vậy, quan niệm về con người, sự

phản ánh triết học về con người đã trở nên đa dạng, sâu sắc và có khả năng

mở rộng ra nhiều vấn đề triết học khác. Con người là điểm xuất phát, “giải

thoát” con người là mục đích cao nhất và cuối cùng của con người. Nó chính

là ý nghĩa nhân văn của triết học Ấn Độ cổ đại.

Tư tưởng về con người của triết học Trung Hoa cổ đại, triết học Trung

Hoa cổ đại luôn luôn xem con người là đối tượng cả về mặt bản thể, quan hệ

xã hội làm trung tâm luận giải, tư tưởng triết học về nhân học, lấy con người

làm trung tâm và mục tiêu nhận thức, đề cao tinh thần nhân văn, khẳng định

giá trị tồn tại tích cực của con người đối với chính bản thân mình và đối với

thế giới bên ngoài. Con người là hạt nhân vũ trụ, nhưng không đồng nhất với

động vật hoặc thần linh mà hòa nhập với trời và đất. Nói tới con người tất

phải tìm hiểu bản chất con người, tính chất người. Nhìn chung, triết học cổ

đại Trung Quốc chỉ quan tâm đến “tính người”, “tâm người”, “lí người”, tức

là chỉ bàn đến phẩm chất tinh thần, ý thức tâm lý, tư tưởng của con người,

tính người là cái được trời phú, bị quy định bởi ý muốn của Thượng Đế. Do

triết học gắn với những vấn đề đạo đức, chính trị, xem mặt xã hội của con

người là trung tâm nghiên cứu, các triết gia cổ đại Trung Quốc đã đặc biệt

quan tâm đến vận mệnh con người. Quan niệm “thiên mệnh” quyết định nhân

sự con người, cũng từ sự thừa nhận “thiên mệnh”, số phận con người được

xem như “bất biến” và con người không nên, không thể cưỡng lại “mệnh

trời”. Mọi cố gắng con người đều thoát ra khỏi sự an bài, định mệnh đều vô

ích đều trái lẽ trời.

Nói đến con người và quan hệ xã hội của con người, Triết học cổ đại

Trung Quốc lấy đạo đức - luân lí làm nội dung chủ yếu của luận thuyết. Đạo

đức - luân lí ở đây là thuộc tính đẳng cấp xã hội của con người, một thuộc tính

quyết định bản chất con người là thiện hay ác. Luân thường đạo lí nằm cả

trong vạn vật, trời đất. Muốn luân lí được hiện thực hóa, điều căn bản quyết


4



định là cá nhân phải “tu thân dưỡng tính”. Người hiểu thấu luân lí và thực

hiện đầy đủ, trung thành đạo đức - luân lí sẽ trở nên con người khuôn mẫu,

tấm gương sáng của xã hội, của thời đại.

riết học Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống triết lí về con người

và xã hội mà nó đang sống, nhưng các khái niệm, phạm trù về con người và

quan hệ xã hội của tồn tại được các nhà triết học cổ đại Trung Quốc đưa ra

thường mang tính chất cảm thụ trực tiếp, hiển nhiên, không cần, không thể

chứng minh, biện giải và bắt buộc phải thừa nhận.

Triết học cổ đại Trung Quốc khi bàn về con người đã đưa ra các quan

điểm rất phong phú, sâu sắc và đa dạng. Cái nền tảng suốt quá trình diễn biến

của vấn đề “con người” trong triết học này là cuộc đấu tranh giữa quan hệ duy

vật vô thần tiến bộ và quan niệm duy tâm tôn giáo. Các quan niệm về “nhân”,

“lễ”, “nghĩa”, “chính danh”, “lương tri’, “tính thiện”, “tính ác”, “vô dục”,

“nhân sự” ,… tất cả đều được trình bày, lí giải theo các nội dung chồng chéo

nhau, xâm nhập vào nhau, lọc bỏ, tiếp thu lẫn nhau; nhiều trường hợp rất khó

phân biệt thành trường phái, tông phái, xu hướng khác nhau. Tính hòa đồng tế

nhị, tinh tế này đã làm cho việc phân biệt tính chất duy tâm hay duy vật, vô

thần hay hữu thần của các quan hệ về con người ngày càng trở nên khó khăn.

Như vậy, có thể nêu một cách tổng thể rằng về phương diện nghiên cứu con

người, triết học cổ đại Trung Quốc đã tạo ra những giá trị và những ảnh

hưởng không thống nhất. Một mặt, nó đặt cơ sở tư tưởng cho những giá trị

tích cực nhất định trên một số lĩnh vực văn hóa truyền thống, mặt khác, nó là

một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra các độc tố của hệ tư tưởng thống

trị phong kiến nói riêng và ý thức xã hội trong xã hội phong kiến nói chung.

Triết học phương Tây cổ đại đã tập trung nghiên cứu khá toàn diện về con

người, trong đó đặt biệt chú ý tới những tính chất khoa học và tự do của con

người. Như chúng ta đã biết Hy lạp cổ đại là xã hội khá tiêu biểu về sự phát


triển nhiều mặt của con người ở phương Tây cổ đại. Vấn đề con người trong


5



triết học Hi Lạp cổ đại đã bộc lộ rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và

chủ nghĩa duy tâm.

Nhà toán học và cũng là nhà triết học Pitago (khoảng 517 - 347 TCN) thì

cho rằng linh hồn con người bất tử, nó cư trú ở thể xác hữu tử và sau khi thể

xác mất thì linh hồn nhập vào thể xác khác để tái sinh lại mình. Còn Platôn

(427 - 347 TCN) thì cho rằng tất cả kể cả con người đều bắt nguồn từ “thế

giới ý niệm” đó chính là cái “tồn tại chân chính”. Những vật thể cảm tính chỉ

là cái bóng của “thế giới ý niệm”. Sau khi thể xác chết, linh hồn bất tử thoát

khỏi tù ngục của thân thể về với “thế giới ý niệm”.

Đêmôcrit (khoảng 460 - 370 TCN) cho rằng cuộc sống không phải do

thần thánh tạo ra, mà được cấu tạo bởi các nguyên tử. Động vật khác thực vật

ở chỗ chúng có linh hồn, nhờ đó động vật có thể hoạt động được, linh hồn của

con người được cấu tạo bằng nguyên tử khi kết hợp với thể xác thì tạo nên sự

vận động và ông kết luận linh hồn không bất tử, và linh hồn sẽ mất đi cùng

với sự mất đi của thể xác.

Tóm lại, vấn đề con người đã được xem xét, giải quyết theo quan niệm

duy tâm hay duy vật trong tư tưởng triết học Hi Lạp cổ đại. Các nhà triết học

Hi Lạp đã xây dựng nên nền triết học hết sức phong phú, đa dạng, đã đánh

dấu trong lịch sử tư tưởng nhân loại một bước ngoặt nhân bản độc đáo.

1.1.1.2 Tư tưởng về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ Trung Cổ và

thời kỳ Phục Hưng - Cận đại Trong suốt thời kỳ tồn tại của chế độ phong kiến

Châu Âu (thế kỹ V - XV) giai cấp phong kiến đã sử dụng đạo cơ đốc về mặt

văn hóa và tinh thần.

Những giáo điều giáo hội đồng thời trở thành những nguyên lý về chính

trị, Kinh thánh có hiệu lực như luật lệ trong bất cứ sự xét xử nào trong xã hội


nếu như con người vi phạm.

Nói tóm lại, thời kỳ này được xem là thời kỳ của nhà thờ, của giáo hội,

trong đó Chúa Trời được xem là lực lượng siêu nhiên, có quyền lực thần


6



thánh tối cao, sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và đồng thời quyết định số

phận con người.

Tây Âu thời kỳ Phục Hưng, khoa học nói chung và triết học nói riêng có

những bước phát triển nhất đinh, quan niệm con người có những khởi sắc theo

hướng tiến bộ. Triết học thời kỳ này đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con

người, đề cao vai trò thực tiễn của con người xem con người là “thước đo tất

thảy mọi vật”.

Phranxit Bêcơn (1561 - 1626) quan niệm con người là sản phẩm của tạo

hóa và gắn liền với tự nhiên. Con người một mặt gần gũi với động vật; mặt

khác, lại là cái gì đó rất siêu phàm. Ông đánh giá cao vai trò của khoa học và

triết học đối với việc phát triển đất nước và con người. Theo ông, mục đích

của xã hội là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự

vật để mở rộng sự thống trị của con người đối với tự nhiên trong chừng mực

mà con người có thể làm được. Giới tự nhiên là gốc của thể xác, còn linh hồn

không phải cái gì khác hơn là cái thực thể của thể xác, đó là một dạng vật chất

tồn tại trong óc người và vận động trong mạch máu và các dây thần kinh.

Rơ-nê Đêcâctơ (1596 - 1650) đã đánh giá cao triết học. Ông cho rằng triết

học là sự thể hiên sự thông thái của con người không chỉ trong lĩnh vực nhận

thức mà cả trong những công việc khác. Từ đó triết học có nhiệm vụ xây

dựng những nguyên lý phương pháp luận giúp cho các khoa học khám phá ra

chân lí và giúp cho con người làm chủ giới tự nhiên trên cơ sỡ nắm được các

quy luật vốn có của nó.

1.1.1.3 Tư tưởng về con người trong triết học cổ điển Đức



Một trong


những đặc điểm quan trọng của triết học cổ điển Đức là đã đề cao vai trò tích

cực của hoạt động người. Ở đây, con người hiện diện như là chủ thể,

đồng thời lại là sản phẩm của quá trình hoạt động của chính mình. Tuy nhiên,

họ đã không đúng khi trí tuệ, ý thức, biến nó thành lực lượng siêu nhiên.

Can-Tơ (1724 - 1804) xuất phát từ quan niệm cho rằng triết học phải đem

lại cho con người một cơ sở thế giới quan mới, phải vạch ra được các nguyên

7



tắc cơ bản của cuộc sống con người, ông cho rằng nhiệm vụ của triết học là

phải xác định được bản chất của con người, phải giải quyết những vấn đề mà

cuộc sống của con người đặt ra trên cả lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Can-Tơ

cho rằng quyền tư hữu gắn liền với bản chất người, nó có nguồn gốc phổ biến

và mang tính tự nhiên, thiêng liêng bất khả xâm phạm.

Đối với Heeghen (1770 - 1831), Heeghen lấy tinh thần “tinh thần thế

giới” làm cơ sở để giải thích các vấn đề của tự nhiên và xã hội. “Tinh thần thế

giới” còn được Heeghen gọi bằng những cái tên khác như “tinh thần tuyệt

đối”, “ý niệm tuyệt đối”, …

Theo quan niệm của Heeghen, con người cũng như các sự vật, hiện tượng

xung quanh ta đều là hiện thân của “tinh thần tuyệt đối”, là kết quả của sự tha

hóa và tinh thần tuyệt đối mà có. Con người là sản phẩm phát triển ở trình độ

cao nhất của “ý niệm tuyệt đối”, hoạt động của con người là công cụ, phương

tiện để “tinh thần thuyệt đối” nhận thức về với chính bản thân mình.


Lút-


vích Phơ Bách (1804 - 1872) theo quan điểm của Phơ Bách, con người là


sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Giữa con

người và tự nhiên nằm trong thể thống nhất hữu cơ không thể tách rời. Ở con

người đã chứa đựng tất cả những gì đã có trong tự nhiên. Trong mỗi con

người cụ thể đã là một thể thống nhất giữa vật chất và tinh thần. Phơ Bách

khẳng định rằng chính thể xác của con người với tất cả những phẩm chất của

nó là chủ thể, là bản chất của con người. Vì vậy, nhiệm vụ của triết học là

phải mang lại cho con người một quan niệm mới về chính bản thân mình, là

tạo ra những điều kiện để cho con người được hưởng hạnh phúc. Tuy nhiên,

do quan niệm duy tâm về đời sống xã hội nên Phơ Bách chỉ thấy sự tồn tại

hiện thực của con người trong mối quan hệ với tự nhiên mà không hề xem

xét đến mối quan hệ xã hội đang hằng ngày hằng giờ chi phối cuộc sống của

mỗi con người. Theo ông, quan hệ giữa con người và con người thì chỉ có

quan hệ duy nhất là quan hệ tình yêu. Phơ Bách đã quy tình yêu vào bản chất


8



người. Như vậy, con người trong triết học của ông xết đến cùng vẫn là con

người trừu tượng.

1.1.2 Quan điểm về con người và bản chất con người của chủ nghĩa Mác

Lênin.

1.1.2.1 Vấn đề con người và bản chất con người.

Trên cơ sở quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, Các

Mác và Ăngghen đã tạo ra một bước ngoặt trong việc nhận thức bản chất con

người. Các ông xuất phát từ con người thực tiễn, con người hiện thực, con

người cải tạo thế giới và thông qua hoạt động vật chất cải tạo hiện thực của

con người để xem xét bản chất của con người. Như vậy, các ông không xem

xét bản chất con người một cách cô lập và phiến diện mà đặt nó trong mối

quan hệ với tự nhiên, xã hội và con người. Con người sống dựa vào tự nhiên

như hết thảy mọi sinh vật khác. Nhưng, sở dĩ con người trở thành con người


được chính là ở chỗ nó không chỉ sống dựa vào tự nhiên, Ăngghen là người

đầu tiên đã chỉ ra được bước chuyển biến từ vượn thành người là nhờ có lao

động. Quá trình con người cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người

trở thành con người. Ăngghen cho rằng, lao động là nguyên nhân xâu xa cho

quá trình chuyển biến từ vượn người thành người và cũng là điều kiện cho

con người tồn tại và phát triển.

Con người là một thực thể sống, có quá trình trao đổi chất với môi trường,

có tâm sinh lý, có những nhu cầu vật chất nhất định. Trước đây C. Mác đã

từng khẳng định, trước khi hoạt động chính trị, văn học, nghệ thuật, con

người phải ăn, ở, đi lại.

Mỗi cơ thể con người đều tuân theo quy luật của tự nhiên như: sinh ra, tồn

tại, trưởng thành, già và chết đi. Tuy nhiên những nhu cầu sinh học của con

người đã mang tính xã hội, do vậy, C.Mác quan niệm con người là một thực

thể đặc biệt đã nhân loại hóa.

Không giống như tự nhiên, xã hội không thể có trước con người mà nó ra

đời cùng với con người, xã hội cũng không phải là cái gì trừu tượng, bất biến

9



mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ thích hợp với một phương thức sản xuất

nhất định. Nhân tố quyết định phương thức sản xuất phát triển lại là lực lượng

sản xuất, bao gồm con người và công cụ lao động. Như thế, không phải cái gì

khác mà chính là con người, cùng với những công cụ do họ chế tạo ra, đã

quyết định sự thay đổi bộ mặt xã hội. Vậy, xã hội đã sản xuất ra con người với

tính cách là con người như thế nào thì con người cũng sản xuất ra xã hội như

thế ấy.

Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào giới tự nhiên,

làm biến đổi giới tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản

chất người, làm cho con người khác với con vật “bản chất con người không

phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của


nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Như vậy, có thể

nói quan điểm về con người trong triết học Mác đã giải quyết một cách triệt

để, nó đã lên án một cách đanh thép những quan điểm duy tâm thần học về

con người, làm sáng tỏ những vấn đề xoay quanh con người và là đáp án để

đưa sự nhận thức về con người - một sinh vật đặc biệt một cách khoa học

nhất.

Khi phê phán quan điểm của Phơ-bach, xuất phát từ những cá thể cô lập,

Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người: “Bản chất con

người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính

hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Luận

điểm trên thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

- Nói bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội, cũng có nghĩa

là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người,

nhưng có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì, các quan hệ

khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định của quan hệ này. Mỗi hình

thái kinh tế - xã hội có một kiểu

quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò chi phối và chính kiểu quan hệ sản

xuất đó là cái xét đến cùng, tạo nên bản chất con người trong giai đoạn lịch sử

10



đó. Ở đây, cái phổ biến (cái chung của nhân loại) tồn tại và thể hiện qua cái

đặc thù (hình thái kinh tế - xã hội, giai cấp) và cái đơn nhất (cá nhân từng con

người). Do đó, khi bàn đến bản chất chung của con người không thể gạt bỏ

bản chất giai cấp của các tầng lớp khác nhau; và ngược lại khi nói bản chất

giai cấp của các tầng lớp khác nhau không được quên bản chất chung của con

người. Nhưng từ đó qui định bản chất của con người chỉ còn là bản chất giai

cấp và tất cả mọi hoạt động của con người đều được giải thích trực tiếp từ đây

lại là xuyên tạc thực chất quan điểm mác-xít về bản chất con người. Đây là

một quan hệ không thể tách biệt của các thứ bậc về bản chất con người. Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ ở từng hình thái quan hệ


xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua

từng chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang

(đương đại) vừa theo chiều dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất

con người bao gồm cả quan hệ hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi

trong lịch sử của mình con người phải bắt buộc kế thừa di sản của những thế

hệ trước nó. Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có những truyền thống thúc đẩy

con người vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống “đè nặng lên những

con người đang sống”. Do đó, khi xem xét bản chất con người không được

tách rời hiện tại và quá khứ.

- Cái bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong

chỉnh thể cụ thể phong phú, đa dạng. Bản chất và thể hiện bản chất con người

có khác biệt.

Không hiểu bản chất chung của con người hay qui tất cả những gì của con

người để chỉ vào bản chất là sai lầm. Bản chất của một con người cụ thể là

tổng hòa các quan hệ xã hội “vốn có” của con người đó và qui định những đặc

điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn tất cả những hành vi của

người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ.

Sự thể hiện bản chất con người không phải là theo đường thẳng, trực tiếp mà

thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội,

11



giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học; giữa lợi ích trước mắt và lâu dài;

giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn

hóa xã hội…Trong diễn biến đầy mâu thuẫn đó, bản chất thể hiện ra như một

xu hướng chung, xét đến cùng mới thấy sự chi phối của xu hướng đó. Con

người là một thực thể sinh vật - xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, con

người làm biến đỗi đời sống xã hội đồng thời cũng biến đỗi chính bản thân

mình.

Điều đó cũng có nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình


thông qua hoạt động thực tiễn.

Như vậy, bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng mà là hiện

thực, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi

cá thể riêng rẻ mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có

giá trị to lớn của

Mác về bản chất con người.

Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản

chất con người, song không có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin coi nhẹ mặt tự

nhiên, phủ nhận các sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con người. Bởi

vì, theo Mác, “giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con

người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng

đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với tự nhiên, vì


con


người là một bộ phận của giới tự nhiên”. Con người và con vật đều có những

nhu cầu như ăn uống, tính dục…, nhưng Mác đã từng vạch ra tính chất khác

nhau của những nhu cầu ấy. Con vật hoạt động theo bản năng còn con người

hành động theo ý thức. Và chính mặt xã hội của con người đã làm cho mặt

sinh vật trong con người phát triển ở trình độ cao hơn những động vật khác.

Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di truyền có

sẵn như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn

hóa, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khác với con vật, con người ngoài tính di

truyền, còn có tính kế thừa về mặt xã hội. Bằng con đường giáo dục mà thế hệ

12



trước truyền lại những kinh nghiêm của của họ cho các thế hệ sau. Những đặc

điểm di truyền của từng người vừa đảm bảo những thuộc tính sinh học của

mình, vừa đảm bảo để con người tiếp thu những kiến thức xã hội. Xuất phát


từ những lập luận trên, kết luận tất yếu rút ra là: con người với tư cách là sản

phẩm của giới tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục của giới tự nhiên, mặt khác

con người là một thực thể xã hội. Sự tác động qua lại giữa mặt sinh học và

mặt xã hội trong con người tạo thành bản chất con người. 1.1.2.2 Mối quan

hệ giữa cá nhân và xã hội

Con người tồn tại qua những cá nhân người, mỗi cá nhân người là một

chỉnh thể đơn nhất gồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lập lại,

khác biệt với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lý, trình độ…

Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành. Những cá nhân này sống

và hoạt động trong những nhóm cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do

điều kiện lịch sử quy định. Trong mối quan hệ giống loài, tức là trong mối

quan hệ với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với tư cách sau:

- Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài “người”. Không có con

người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm tính.

- Cá nhân là cá thể người riêng rẻ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội,

là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách.

- Cá nhân chỉ được hình thành và phát triển trong quan hệ xã hội. Nhưng

xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử nên cá nhân là một hiện tượng có tính

lịch sử. Mỗi thời kỳ lịch sử có một “kiểu xã hội của cá nhân” mang tính định

hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người trong

thời kỳ lịch sử cụ thể đó.

Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với

giống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân

khác thì cá nhân là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong riêng

biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác.

Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của

13



mỗi cá nhân. Đó là thế giới của “cái tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố


cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá nhân “dấn thân” vào cuộc sống,

tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào bên trong mình, thực

hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình.

Đây là quá trình kép, xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội, cá nhân xã

hội và cá nhân nhân cách là thống nhất. Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân

có khả năng tự ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức

năng, niềm vui và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hôi.

Cá nhân có nhân cách gia nhập vào tập thể như là bộ phận của cái toàn

thể, thể hiện bản sắc của mình thông qua hoạt động tập thể, nhưng không

“hòa tan” vào tập thể. Đây là mối quan hệ biện chứng bao hàm mâu thuẫn

giữa cá nhân và tập thể. Tùy theo tính chất và khả năng giải quyết những mâu

thuẫn đó mà mối quan hệ này có duy trì, phát triển hoặc tan rã. Mối quan hệ

giữa cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau,

trong đó xã hội giữ vai trò quyết định. Nền tảng của quan hệ này là quan hệ

lợi ích. Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các quan hệ lợi ích

sao cho khai thác được cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá

trình kinh tế, xã hội và điều kiện, là môi trường, là phương thức để lợi ích cá

nhân được thực hiện. Cá nhân không chỉ là sản phẩm của xã hội mà còn là

chủ thể của sự phát triển xã hội, của hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội

khác. Với tư cách là chủ thể của lịch sử, cá nhân hành động không phải riêng

rẻ mà với tư cách là một bộ phận của tập thể xã hội (gia đình, giai cấp, dân

tộc, nhân dân). Nhân dân là cộng đồng lớn nhất, trong đó cá nhân hành động

như chủ thể lịch sử. Cá nhân chỉ được hình thành phát triển trong xã hội,

trong tập thể. Sự tác động cá nhân vào xã hội mang hình thức đặc thù

tùy thuộc vào các chế độ xã hội và trình độ văn minh khác nhau.

Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản VN về con người

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người


14


1.2



Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh

là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người. Vấn

đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm,

xuyên suốt, đó cũng chính là nội dung cơ bản trong toàn bộ tư tưởng về con

người của Hồ Chí Minh. Ngay khi nước ta vừa giành được độc lập sau bao

năm nô lệ, Người đã khẳng định trong tuyên ngôn


Độc lập: “Tất cả mọi


người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Và thậm chí đến cuối đời, qua bản Di chúc

thiêng liêng, ta cũng thấy được tình yêu thương bao la, vô bờ ấy: “Cuối cùng,

tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ

đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến

các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được nhìn nhận vừa là mục tiêu,

vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Tư tưởng

đó được thể hiện rõ trong lý luận của Người về cách mạng dân tộc dân chủ

nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong kháng chiến, Người nhấn

mạnh là cần phải xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, phát huy tính sáng tạo

của quần chúng nhân dân để kháng chiến và kiến quốc. Trong xây dựng xã

hội chủ nghĩa, bao giờ Người cũng coi trọng những yếu tố khách quan vì

những yếu tố này luôn gắn liền và tác động đến con người. Người khẳng định,

muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trước tiên cần phải có “con

người xã hội chủ nghĩa”. Đó là những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”,


có phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô

tư”; phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân và ra sức rèn luyện đạo đức

cách mạng “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Quan niệm của Bác về con người rất toàn diện, có cái tốt và cái xấu, do đó,

15



theo người “phải làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa

xuân và phần xấu bị mất dần đi”.

Hồ Chí Minh luôn hướng về con người với tấm lòng yêu thương, trân

trọng.

Người có niềm tin rất lớn vào con người. Ngươi đã từng nói “Hiền dữ

phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Lòng tin đó được hình

thành ở Người từ nhữngngày cắp sách đến trường và phát triển lên trong thời

gian bôn ba tìm đường cứu nước. Niềm tin đó càng được khẳng định khi

Người bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin vì đó chính là “con đường để giải

phóng của chúng ta”. Người đã thâm nhập vào thế giới của những con người

“dưới đáy” xã hội, tìm hiểu họ, hướng họ đến với ngày mai và cũng ở nơi

đó, Người càng hiểu sâu sắc bản chất thật sự của khẩu hiệu mị dân mà bọn

thực dân đang hô hào trên các nước thuộc địa: “Tự do, bình đẳng, bác ái!”.

Càng tin vào con người, tin vào quần chúng bao nhiêu thì tình thương yêu của

Người đối với họ càng to lớn bấy nhiêu. Càng yêu dân, Người càng chăm lo

đến nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, phát triển giáo dục vì

Người từng khẳng định rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người ước

mong dân tộc ta phải “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đất nước đẹp

giàu, nhân dân no ấm.

Đúng vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn thiết thực và

quý báo về những động lực chủ yếu để thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ

nghĩa xã hội.

Theo Người, động lực quan trọng và mang tính quyết định nhất của xây


dựng chủ nghĩa xã hội chính là nhân tố con người. Người khẳng định: “Vì lợi

ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”;

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa”. Đặc biệt,

truyền thống yêu nước, sự cố kết cộng đồng, gắn với sự lao động sáng tạo của

nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực vô cùng to lớn. Chính vì vậy,

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc.

16



Người khẳng định: “Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô

địch”.

Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của

“cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng

giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con

người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là

động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con

người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của

Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo

nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng

đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân

dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người

của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật

chất to lớn và là nhân tố quyết định tháng lợi của chính sự nghiệp cách mạng

ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật

triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy

vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư

cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân

dân. Theo quan điểm của

Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là “đầy tớ trung thành” có


sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách

mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư

tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa

nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một \chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt

cách của một nhà hiền triết phương Đông.

1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ

nam cho hành động, vì thế tư tưởng về con người của Đảng cộng sản Việt

17



Nam nhất quán với tư tưởng về con người của chủ nghĩa Mác và của Hồ Chí

Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và

qua các chủ trương, chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo

công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được

Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung

tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”; đang là động lực của công cuộc

xây dựng xã hội mới với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,

dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” của Đảng ta Để đạt

tới mục tiêu đó, nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ là thực hiện thành

công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là quá trình

biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp. Đối với

nước ta, do xuất phát điểm thấp về sự phát triển của lực lượng sản xuất, của

cơ sỡ vật chất - kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ…nên sự nghiệp công

nghiệp hóa lại càng khó khăn và đòi hỏi chúng ta phải phát huy mọi tiềm năng

vốn có của đất nước để đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó tiềm

năng con người phải được khơi dậy. Tức là, phải bằng mọi cách phát huy vai

trò tích cực của con người Việt nam cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước. Điều đó có nghĩa là phải tìm những giải pháp tốt nhất nhằm


phát huy nhân tố con người - chủ thể của toàn bộ tiến trình đó. Nhận thức

được tầm quan trọng của nhân tố đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII


của


Đảng đã quán triệt một trong những quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại

hóa là “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát

triển mạnh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước…”.

[16, tr. 85].

Với quan điểm này, Đảng ta đã xác định nhân tố con người chính là chủ

thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hiện nay cách mạng nước ta đã chuyển sang một thời kỳ mới “Thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” như Đại hội lần thứ VIII,

18



IX, X đã nhận định. Đây là thời kỳ mà chúng ta cần huy động mọi tiềm năng,

sức người, sức của phấn đấu cho sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Do đó, hơn

lúc nào hết trong thời kỳ này việc nghiên cứu luận cứ một cách khoa học cho

việc tìm ra những giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người có ý nghĩa vừa

cấp bách, vừa cơ bản. Những giải pháp đó phải đánh giá cho đúng tìm năng

của con người Việt Nam, khơi dậy những tiềm năng trong nhân tố con người

biến nó thành hiện thực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa.

Công cuộc đổi mới đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, vậy xuất phát điểm

của đổi mới là gì, nếu không phải là từ con người, bởi không có sự đổi mới xã

hội nào nếu như không có sự đổi mới từ con người. Một loạt vấn đề về con

người: nhân cách, trí tuệ, tiềm năng, nguồn lực con người, xây dựng và phát

triển con người Việt Nam, đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ


trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực ra, vấn đề con người không phải là vấn đề mới, không phải đến khi

xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta mới bàn đến, mà ngay khi con người có ý

thức và khảnăng tìm hiểu thế giới xung quanh, con người cũng đồng thời tìm

cách giải đáp những bí mật về mình. Lịch sử nhân loại, xét đến cùng, là lịch

sử giải quyết vấn đề con người và giải phóng con người từng bước thoát khỏi

thần quyền và bạo quyền để đi đến mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện

cá nhân trong xã hội văn minh. Không một dân tộc nào tồn tại và phát triển lại

không chú ý đến con người, chỉ có điều là khác nhau ở mục đích giải quyết và

phương pháp mà thôi. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam vừa qua đã chứng minh

rằng, không phải bộ máy, cũng không phải khâu nào khác trong hệ thống

chính trị với tầm quan trọng của nó, mà chính là con người với phẩm chất và

năng lực nhất định đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh của đổi mới. VÌ

thế, đổi mới không thể thành công, nếu chúng ta không tạo ra được

môi trường thuận lợi để khơi dậy hoạt động sáng tạo của con người. Mặt

19



khác, đổi mới cũng chẳng đem lại kết quả gì, nếu chúng ta quay lưng lại với

những vấn đề rất cơ bản của con người.

Tại Đại hội VII, khi xác định con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là

động lực của sự phát triển kinh tế - xã hôi, Đảng ta đã khẳng định nhiệm vụ

trọng tâm của văn hóa là tập trung xây dựng con người và nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại

Đại hội VII (năm 1991) đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân

ta xây dựng là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân lao động làm

chủ đất nước; có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc; mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.


20




CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHÂN TỐ CON

NGƯỜI Ở YÊN BÁI HIỆN NAY.

1. Phát huy nhân tố con người ở Yên Bái hiện nay

Chủ nghĩa xã hộI có được xây dựng thành công hay không tuỳ thuộc vào

việc chúng ta có phát huy tốt nguồn lực con ngườI hay không. Khi Việt Nam

bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộI Hồ Chí Minh khẳng định

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hộI trước hết cần có những con ngườI xã hộI

chủ nghĩa”.

Phát huy nhân tố con ngườI thể hiện ở quá trình đào tạo bồI dưỡng làm

tăng nguồn lực con ngườI về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức…., quá trình

khai thác có hiệu quả những yếu tố đó trong lao động, học tập, chiến đấu

nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc.

Những năm qua kinh tế xã hội Việt Nam ngày càng phát triển năng suất

lao động ngày càng cao đã tạo điều kiện cảI thiện đáng kể đờI sống nhân dân

giúp cho việc chăm sóc con ngườI ngày càng tốt hơn. Đảng và Nhà nước ta đã

tạo những điều kiện thuận lợI cho mọI ngườI dân tham gia đóng góp ý kiến

trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của từng địa phương

từng cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong nhiều đơn vị kinh tế đã động viên mọI

ngườI dân đóng góp tài năng trí tuệ thực hiện cảI tiến kỹ thuật thay đổI quy

trình sản xuất nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao.

Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tớI giáo dục đào tạo đã đưa tỷ lệ số

ngườI biết chữ từ 5% trước đây tớI nay gần 90% dân số biết chữ, trình độ dân

trí đã có tiến bộ so vớI trước đây. Nhiều tỉnh đã thực hiện xoá nạn mù chữ phổ

cập tiểu học hay trung học cơ sở. Hiện nay ngân sách nhà nước đầu tư cho

giáo dục đào tạo năm sau cao hơn năm trước. Giáo dục miền núi, vùng sâu,

vùng xa được quan tâm ngày một tốt hơn. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng

định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu tạo ra điều kiện thuận lợI để


21



“cả nước trở thành một xã hội học tập”. Trong quá trình giảng dạy, học tập

tìm biện pháp để thực hiện “phỏt huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo

của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay

nghề.

Những năm qua chúng ta đã đào tạo được một đội ngũ tri thức đông

đảo hơn 10 nghìn người có trình độ trên đạI học, hơn một triệu người có trình

độ đại học đang công tác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, họ đã có

những đóng góp to lớn trong kháng chiến giải phóng dân tộc, trong quá trình

xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay đang tích cực đóng góp cho sự nghiệp

công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

Việc chăm sóc sức khoẻ cho các tầng lớp nhân dân đã được xã hộI quan

tâm. Những cơ sở khám chữa bệnh được xây dựng tớI tận các xã kể cả vùng

sâu vùng xa. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên nhiều so với

trước đây. Trang thiết bị trong các bệnh viện trong các cơ sở khám chữa bệnh

viện trong các cơ sở khám chữa bệnh ngày một đầy đủ và hiện đại.

Trình độ học vấn của người Việt Nam được nâng lên, quan hệ xã hội giao

lưu quốc tế ngày càng mở rộng cho nên tính tích cực xã hộI tính tự chủ sự

năng động sáng tạo của con ngườI Việt Nam đã được nâng lên so vớI trước

đây.

Nhìn chung trong những năm qua Đảng nước ta đã chăm lo tớI việc bồI

dưỡng nguồn nhân lực của đất nước cả sức khoẻ tri thức năng lực phẩm chất

đạo đức thực hiện cảI cách bộ máy Nhà nước về mọi mặt, tạo điều kiện để

mỗi người phát huy được khả năng của mình đóng góp cho sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc phát huy nhân tố con người ở Yên Bái cũng có những hạn

chế. Trước hết chúng ta quá đề cao mặt xã hội, năng động viên tinh thần, nhẹ

mặt tự nhiên, không quan tâm đúng mức tới nhu cầu vật chất, chưa thực sự


chú ý tới lợi ích cá nhân người lao động, có lúc có nơi đã đồng nhất lợi ích cá


22



nhân với chủ nghĩa cá nhân nên không phát huy mạnh mẽ được tính tích cực

xã hội của người lao động, vai trò của cá nhân bị lu mờ, tài năng cá nhân

không được khuyến khích, tính cách riêng của cá nhân không được thừa nhận.

Hai là, có lúc chúng ta đề cao quá mức tính giai cấp coi nhẹ tính nhân loại

không chú ý kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc, chưa làm theo đúng

tính quy luật mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra: CNXH là sự nối tiếp quá

trình phát triển của nhân loại, phải biết tiếp thu những di sản của quá khứ một

cách có chọn lọc nâng lên tầm cao mới. Con người trong xã hội thuộc một

giai cấp một dân tộc nhất định, là cá nhân của một cộng đồng nhân loại trong

nú mang dấu ấn của thời đại những nét đặc trưng của dân tộc và mang bản

chất của một giai cấp nhất định. Con người muốn phát triển nhân cách một

cách đầy đủ phải kết hợp một cách hài hoà tất cả những phẩm chất không

được quá nhấn mạnh yếu tố này đi đến phủ nhận những yếu tố khác. Những

khuyết điểm trên dẫn tới sự phát triển khiếm khuyết về nhân cách trong không

ít người Việt Nam. Sự hiểu biết về truyền thống văn hoá dân tộc, tinh hoa văn

hoá nhân loại trong nhiều người Việt Nam còn hạn chế. Điều đó đang gây ra

những khó khăn trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.

Ba là, tình trạng quan liêu trong bộ máy nhà nước một bộ phận cán bộ

tham nhũng cửa quyền vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân đang làm

biến dạng nhân cách con người làm cho con người bị phân thân, không ít kẻ

cơ hội, hữu khuynh chui vào tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước gây ra những

tác động xấu làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước

ta. “Tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tuởng chính trị đạo đức lối sống ở

một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiên trọng” (3) đang làm

giảm nhiệt tình hăng say lao động hạn chế sức sáng tạo trong một bộ phận


những người lao động, tác động không nhở tới niềm tin và sự tư dưỡng rèn

luyện phấn đấu trau dồi đạo đức cách mạng của thế hệ trẻ hôm nay.

Cơ cấu đào tạo giữa các ngành giữa các bậc học chưa hợp lý vì vậy dẫn

tới tình trạng vừa thừa vừa thiếu cán bộ hiện nay. Nhìn chung việc đào tạo và

23



sử dụng cán bộ ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Tình trạng thiếu việc

làm trong một bộ phận thanh niên đang tạo ra sức ép lớn cho xã hội.

Bốn là, sự kết hợp các nguồn lực ở nước ta còn nhiều hạn chế. Khí hậu

Việt Nam có nhiều thuận lợi cho việc trồng các loại cây nông, công nghiệp

vùng nhiệt đới, nhưng hiệu quả khai khác đất đai ở Yên Bái còn thấp trong

khi đó sức lao động ViệtNam còn dôi dư khá nhiều. Tình trạng thiếu việc làm

ở nông thôn, một bộ phận người lao động thất nghiệp ở thành phố đang gây ra

sự lãng phí lớn về nguồn lực con người ở Yên Bái hiện nay.

Năm là, lực lượng lao động của người lao động Yên Bái còn hạn chế. Số

người lao động qua đào tạo còn ở mức thấp sovới các nước trong khu vực.

Những người lao động được đào tạo còn có sự tách rời giữa lý luận và thực

tiễn. Người lao động còn mang nặng tư duy ý thức tác phong của người sản

xuất nhỏ, thiếu ý thức tổ chức kỉ luật…

Theo điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy Yên Bái có

tới 20% số sinh viên ra trường không có việc làm, 0,8% có việc làm thì hầu

hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề mình đã học

trong khi đó nhiều doanh nghiệp kể cả những doanh nghiệp có FDI và nhiều

dự án kinh tế quan trọng khác rất nhiếu nguồn lực chuyên nghiệp. Khoảng 2/

3 số người có học vị tiến sĩ không làm khoa học mà đang làm công tác quản

lý.


(4)


Theo điều tra của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2005 nguồn nhân

lực Yên Bái về chất lượng được xếp hạng 15/ 59 quốc gia được khảo sát song

mất cân đối nghiêm trọng. Cứ 1 cán bộ tố nghiệp Đại học có 1, 16 cán bộ tốt

nghiệp trung cấp và 0, 92 công nhân kỹ thuật trong khi đó tỷ lệ này của thế

giới là 1, 4 và 10 . Ở một hướng điều tra khác cũng cho thấy mức độ sẵn sàng

(5)


tham gia sân chơi thế giới của người lao động nước ta còn hạn chế. Khái quát

cuộc thăm dò ý kiến báo điện tử VN Express mới đây cho thấy chỉ 8,6% độc

giả trả lời rằng họ hiểu rất rõ về tổ chức thương mại thế giới WTO và tiến


24



trình gia nhập của Việt Nam; 28,5% mới hiểu tương đối; 41,2% hiểu lơ mơ,

số còn lại không hiểu và thậm chớ không quan tâm tới vấn đề này .

(6)


2. Giải pháp phát huy nhân tố con người ở Yên Bái hiện nay

Phát huy nhân tố con người Yên Bái trong thời đại ngày nay là yếu tố cơ

bản để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt

trong khi những thành tựu của khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng

rộng rói trong mọi lĩnh vực của đời sống đòi hỏi con người phải có tri thức kỹ

càng để vận dụng chúng vào thực tiễn. Bên cạnh đó để thực hiện thành công

mục tiêu đón đầu thì cần những con người năng động, có kiến thức có lòng

nhiệt huyết cao. Đó chính là điều kiện cần có để phát triển nhanh và bền

vững.

Phải nâng cao vị thế của người lao động trong qúa trình sản xuất thực hiện

giao đất giao rừng cho nông dân, tạo mọi điều kiện cho mọi người làm chủ

những tư liệu sản xuất của xã hội ở mọi thành phần kinh tế. Huy động rộng


rói nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của

đất nước, từng địa phương. Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo

đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, dân chủ,

công khai. Phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi

thành viên trong xã hội để cùng với Nhà nước giải quyết những khó khăn của

đất nước.

Nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhận thức chính

trị (chủ nghĩa Mỏc-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta) về

pháp luật, về nhà nước của dân, do dân, vì dân, tăng cường vai trò kiểm tra

giám sát của quần chúng nhân dân trong mọi hoạt động của bộ máy nhà nước,

huy động đông đảo quần chúng nhân dâm tham gia vào cuộc đấu tranh chống

tham nhũng. Xây dưng cơ chế quản lý xã hội, quản lý nhà nước để người dân

có điều kiện tham gia vào công việc nhà nước khắc phục tình trạng trì trệ, bảo

thủ trong một số cơ quan nhà nước.


Nhận xét